Cuộc sống sinh viên Nhật có gì khác biệt

Người Nhật rất thông minh và có nhiều tài lẻ, nên sẽ có nhiều người nghĩ sinh viên Nhật rất thích học, là “mọt sách” chính hiệu, ít tham gia các hoạt động ngoại khóa. Nhưng sự thật thì không phải vậy, hãy xem sự khác biệt của cuộc sống sinh viên tại Nhật như thế nào nhé!

1. Học để qua môn

Có lẽ phải đến 80% sinh viên Nhật không quan tâm lắm đến điểm số ở trường đại học. Cũng giống như ở Việt Nam, nhiều sinh viên Nhật chỉ tập trung ôn luyện vào sát kỳ thi cuối kỳ và chỉ cần cố để đạt mức Khá. Thư viện trường luôn vắng vẻ quanh năm và chỉ đông kín người vào tháng 7 và tháng 1 (mùa thi học kỳ ở Nhật). Xin việc ở Nhật không cần trình bảng điểm nên sinh viên Nhật không quá quan trọng việc cày cuốc đê lấy điểm cao mà chỉ cần đảm bảo lấy đủ tín chỉ để tốt nghiệp. Ngược lại, phần thiểu số có mong muốn học sâu hơn để nghiên cứu thì lại học hành rất nghiêm túc. họ chủ động trong việc tìm kiếm kiến thức và sở hữu nền kiến thức rất chắc chắn. Cách đánh giá của giảng viên cũng rất rõ ràng: rất dễ dàng cho việc qua môn để lấy được tín chỉ, đôi khi chỉ cần đi học đủ hoặc đảm bảo yêu cầu tối thiểu của môn học; nhưng lại khó để đạt điểm cao khi cần cả những tư duy sáng tạo trong việc làm bài. Chính vì sự rõ ràng đó mà chuyện gian lận thi cử ở Nhật là rất hiếm.

2. Coi trường đại học là trạm nghỉ trước khi đi làm

Học sinh Nhật học rất nặng ở cấp 3 để tranh chỗ vào các trường đại học lớn rồi sau đó coi việc học đại học là điểm dừng chân để nghỉ ngơi trước một cuộc tranh đấu lớn hơn: đó là đi làm. Sinh viên Nhật coi trường đại học là chỗ nghỉ ngơi và làm những việc yêu thích, tận hưởng cuộc sống độc lập trước khi họ phải trở thành shakaijin (những người đi làm nói chung) và đối mặt với những áp lực về sự nghiệp và gia đình khủng khiếp trong xã hội Nhật Bản. Các mối quan hệ xã hội tạo dựng được trong trường đại học cũng chiếm vai trò rất quan trọng đối với sinh viên Nhật trong cuộc sống về sau.

3. Văn hoá câu lạc bộ

Người Nhật vốn rất khép kín trong lớp học và chỉ thực sự cởi mở khi tham gia vào hoạt động của các câu lạc bộ trong trường học. Có tới hàng trăm câu lạc bộ thuộc đủ thế loại trong một trường đại học nhưng nhiều nhất là các câu lạc bộ thể thao và âm nhạc. Các câu lạc bộ được tổ chức rất quy củ và có nhiều hoạt động thú vị. Nhiều sinh viện Nhật coi việc tham gia hoạt động câu lạc bộ còn quan trọng hơn việc học trên lớp.

 

Ở trong các câu lạc bộ, quan hệ tiền bối – hậu bối rất quan trọng. Những quy tắc ứng xử trên dưới chặt chẽ trong xã hội Nhật cũng được thể hiện rất rõ trong các hoạt động câu lạc bộ. Những sinh viên tham gia câu lạc bộ trong cùng một năm thường chơi thành nhóm và phải nói chuyện lễ phép với các tiền bối. Các sinh viên năm nhất thường phải làm những công việc dọn dẹp sau mỗi lần hoạt động hoặc tổ chức biểu diễn.

Các sinh viên năm hai và năm ba thường giữ các vai trò quan trọng trong việc điều hành các hoạt động chính của câu lạc bộ. Những sinh viên các khóa trên sẽ phải bỏ nhiều tiền hơn trong các cuộc nomikai (liên hoan câu lạc bộ, chủ yếu là uống), đặc biệt là trong các dịp chào đón thành viên mới vào câu lạc bộ. Việc có được thành tích tốt trong các hoạt động câu lạc bộ cũng giúp sinh viên Nhật có nhiều cơ hội kiếm được việc làm tốt.

4. Thời khóa biểu của sinh viên Nhật

Các lớp học trong trường đại học thường được tổ chức với số tiết khác nhau, tùy thuộc vào từng khoa. Thời khóa biểu cũng khác nhau giữa các trường đại học. Chương trình ban ngày bắt đầu khoảng 8:30 sáng và kết thúc vào khoảng 5:30. Trong khi đó ban đêm các sinh viên học từ 6:00 đến 8:00. Học sinh hoàn toàn có thể chọn học nhiều hay ít môn tùy thích.

5. Đi làm thêm (Arubaito)

Arubaito là thuật ngữ tiếng Nhật chỉ các công việc bán thời gian. Hầu hết sinh viên đại học có việc làm bán thời gian. Cửa hàng tiện lợi, cửa hàng ramen, cửa hàng udon, nhà hàng, siêu thị, juku hoặc trường học là những nơi họ thường làm arubaito. Sinh viên có thu nhập từ arubaito thường để tự hỗ trợ mình trong các khoản thanh toán hóa đơn, cung cấp cho mình những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống tự lập một mình, mua sắm (chủ yếu cho nữ giới), đi du lịch và giao lưu xã hội (như uống rượu nomikai và karaoke).